This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Cho con bú giúp phòng ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ.

Các nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng việc cho con bú giúp bà mẹ mang lại lợi ích sức khoẻ ngắn hạn sau sinh. Nghiên cứu mới này đã đánh giá tác động của việc cho con bú trong khoảng thời gian dài hơn, có tác động đến sức khoẻ tim mạch khoảng một thập kỷ sau khi sinh của phụ nữ trẻ và trung niên. Nghiên cứu này cũng củng cố các bằng chứng về lợi ích của việc cho con bú sữa mẹ ở những phụ nữ có huyết áp bình thường trong thai kỳ và kiểm tra cụ thể xem liệu những lợi ích này cũng được thấy ở phụ nữ có huyết áp cao trong thời kỳ mang thai hay không.

BS. Malamo Countouris thuộc Đại học Pittsburgh, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: Nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng việc cho con bú không chỉ quan trọng cho trẻ mà còn mang lại lợi ích to lớn cho người mẹ. Nuôi con bằng sữa mẹ giúp bảo vệ tim mạch cho bà mẹ thông qua cải thiện chỉ số cholesterol và các dấu hiệu cận lâm sàng của bệnh tim mạch.

Nghiên cứu được tiến hành trên 678 phụ nữ mang thai tại hơn 52 phòng khám thuộc bang Michigan, Hoa Kỳ từ năm 1998 đến năm 2004. Các phụ nữ này tiếp tục tham gia đánh giá sức khoẻ trong giai đoạn tiếp theo từ 7 đến 15 năm sau (trung bình hơn 11 năm). Trong quá trình đánh giá tiếp theo, người tham gia đã báo cáo về thời gian mà họ cho con bú sau mỗi lần mang thai, các nhà nghiên cứu đã đo lường huyết áp, cholesterol, triglyceride, đường kính và độ dày của động mạch cảnh. Những yếu tố này thường được sử dụng để đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch vì chúng cảnh báo sớm những vấn đề tiềm ẩn ở những bệnh nhân chưa có bệnh tim mạch.

Các nhà nghiên cứu phân chia đối tượng nghiên cứu thành ba nhóm: những người không bao giờ cho con bú (157 phụ nữ), những người cho con bú ít hơn 6 tháng trong một lần mang thai (284 phụ nữ) và những người cho con bú từ 6 tháng trở lên mỗi lần mang thai (133 phụ nữ). Bên cạnh đó, họ phân tích riêng những phụ nữ bị huyết áp cao và huyết áp bình thường trong thời kỳ mang thai.

Sau khi điều chỉnh các yếu tố về độ tuổi, kinh tế gia đình của phụ nữ mang thai và các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn khác, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những phụ nữ có huyết áp bình thường trong thời kỳ mang thai và cho con bú ít nhất 6 tháng hoặc nhiều hơn thì có mức cholesterol "tốt" cao hơn, giảm triglyceride và độ dày động mạch cảnh so với những người chưa bao giờ cho con bú bằng sữa mẹ.

Những phát hiện này cho thấy rằng phụ nữ có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim bằng cách cho con bú ít nhất 6 tháng trong một thai kỳ. Mặc dù các cơ chế sinh lý cụ thể vẫn chưa được nghiên cứu sâu, BS. Countouris cho rằng là việc cho con bú làm tăng sự biểu hiện của hoóc môn oxytocin, có thể làm giảm huyết áp. Người ta cũng giả thuyết rằng lactation có thể chống lại một số thay đổi về chuyển hóa xảy ra trong thời kỳ mang thai.

Đối với những phụ nữ bị huyết áp cao trong thời kỳ mang thai, các nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về lợi ích sức khỏe tim mạch từ việc cho con bú sữa mẹ. BS. Countouris giả thuyết rằng số người tham gia nghiên cứu có huyết áp cao trong thời kỳ mang thai có thể chưa đủ để đánh giá bất kỳ lợi ích tim mạch nào trong số những phụ nữ này. Các nhà nghiên cứu cho biết những nghiên cứu trong tương lai sẽ bao gồm nhiều người tham gia hơn, hoặc theo dõi phụ nữ trong thời gian dài hơn có thể giúp làm sáng tỏ các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch ở những phụ nữ có huyết áp bình thường và cao huyết áp trong thời kỳ mang thai.

Phan Hưng

((Theo Medicalxpress.com, 2018))

Các yếu tố có thể gây sảy thai

Dưới đây là một số yếu tố dẫn tới sảy thai hoặc buộc phải phá thai.

Ảnh minh họa.

1. Bệnh tật

Lối sống lành mạnh, ăn uống đúng cách, có cân nặng hợp lý, tất cả những điều này sẽ góp phần tăng cường sức khỏe của thai nhi. Nếu bạn mắc bệnh nào đó, bạn sẽ cần kiểm soát bệnh và rất lưu ý trong khi dùng thuốc vì nó có thể gây sảy thai hoặc các khuyết tật bẩm sinh cho trẻ. Bệnh tiểu đường không được kiểm soát hoặc tình trạng tiền tiểu đường có thể dẫn tới các khuyết tật ở trẻ. Tránh dùng các thuốc động kinh để ngăn ngừa khuyết tật bẩm sinh.

2. Tuyến giáp

Hormon tuyến giáp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một đứa trẻ khỏe mạnh và duy trì sức khỏe của mẹ.

Hormon tuyến giáp quan trọng đối với sự phát triển bình thường của não và hệ thần kinh của trẻ. Trong 3 tháng đầu tiên, bào thai phát triển phụ thuộc vào sự bổ sung hormon tuyến giáp của mẹ, được mang tới qua nhau thai. Khoảng tuần thứ 12, tuyến giáp của trẻ bắt đầu hoạt động. Cả hai tình trạng cường giáp và suy giáp đều có thể gây sảy thai. Vì vậy, bạn cần thận trọng và nên thực hiện những kiểm tra này khi bắt đầu lên kế hoạch mang thai.

3. Tiêm chủng

Bạn cần chủng ngừa đầy đủ và nhận thức được tình trạng sức khỏe của mình. Rubella là một nhiễm vi-rút, nếu bạn mắc phải trong những tháng đầu thai kỳ, nó có thể gây khuyết tật bẩm sinh, vì vậy, bạn cần được tiêm phòng trước khi mang thai để ngăn ngừa biến chứng. Tiêm phòng đúng thời điểm giúp bảo vệ sức khỏe cho bạn và bé.

4. Các hóa chất độc hại

Tránh các hóa chất độc hại và các chất gây ô nhiễm môi trường ở nơi làm việc hoặc ở nhà như các hóa chất tổng hợp, kim loại, phân bón, thuốc xịt côn trùng, phân của mèo và các động vật gặm nhấm. Những chất này có thể làm tổn thương hệ sinh sản của cả nam và nữ. Phơi nhiễm với lượng nhỏ những chất này có thể dẫn tới sảy thai.

5. Các sản phẩm làm đẹp

Sơn móng tay, son môi và các mỹ phẩm khác có thể có các hóa chất như phthalate và có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của bào thai. Vì thế nên hạn chế sử dụng.

6. Thực phẩm chứa chất bảo quản

Dinh dưỡng đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển khỏe mạnh của trẻ. Những thực phẩm chứa nhiều thuốc trừ sâu, chất bảo quản và các hóa chất khác có thể gây khuyết tật bẩm sinh vì vậy nên lựa chọn thực phẩm một cách khôn ngoan.

BS Cẩm Tú

(Theo THS/ Univadis)

Nhiễm trùng hậu sản

Hiện nay vấn đề nhiễm trùng bệnh viện đang được các cơ sở y tế chú ý ngăn ngừa bằng nhiều biện pháp để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng mắc phải, trong đó có nhiễm trùng hậu sản.

Nhiễm trùng hậu sản là tình trạng nhiễm trùng xảy ra ở sản phụ sau khi sinh xuất phát từ đường sinh dục như âm đạo, cổ tử cung, tử cung trong 6 tuần đầu sau đẻ. Một số vi khuẩn gây nhiễm trùng trên thực tế thường gặp là tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, E. coli, các vi khuẩn kỵ khí như Clostridium, Bacteroides... Đường lan truyền để gây nhiễm khuẩn có thể từ âm đạo qua cổ tử cung, qua vòi tử cung vào phúc mạc; đồng thời vi khuẩn cũng có thể xâm nhập qua chỗ nhau bám vào máu gây nhiễm trùng máu. Yếu tố thuận lợi để gây nên tình trạng nhiễm trùng hậu sản do sản phụ có điều kiện dinh dưỡng kém, bị thiếu máu, nhiễm độc thai nghén, ối vỡ non, ối vỡ sớm, chuyển dạ kéo dài, bế sản dịch; do thực hiện các thủ thuật sản khoa như bóc nhau, kiểm soát tử cung...

Các hình thái nhiễm trùng hậu sản thường gặp là nhiễm khuẩn tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo; viêm niêm mạc tử cung, viêm tử cung và viêm quanh tử cung, viêm phúc mạc tiểu khung, viêm phúc mạc toàn bộ, nhiễm trùng huyết, viêm tắc tĩnh mạch.

Nhiễm trùng hậu sản

Nhiễm khuẩn tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo

Tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo bị nhiễm khuẩn thường do vết khâu tầng sinh môn không bảo đảm vô trùng, việc khâu phục hồi tầng sinh môn không đúng kỹ thuật hoặc bỏ sót không khâu, sót gạc trong âm đạo. Sản phụ có triệu chứng sốt không cao; tại chỗ vết thường có biểu hiện sưng, đỏ, đau và nung mủ; sản dịch không có mùi hôi. Biện pháp xử trí điều trị chủ yếu là chăm sóc tại chỗ bằng cách rửa sạch vết thương với thuốc sát khuẩn, cắt bỏ chỉ khâu tầng sinh môn khi có nung mủ, đóng băng vệ sinh, dùng gạc vô khuẩn để băng vết thương; có thể dùng kháng sinh nếu cần.

Viêm niêm mạc tử cung

Niêm mạc tử cung bị viêm do các nguyên nhân như sót nhau, sót màng nhau, nhiễm khuẩn ối, thực hiện thủ thuật kiểm soát tử cung, bóc nhau bằng tay không bảo đảm vô khuẩn. Sản phụ bị viêm niêm mạc tử cung có biểu hiện triệu chứng sốt 38 - 38,50C sau khi sinh vài ba ngày, mệt mỏi, khó chịu; sản dịch ra nhiều, có mùi hôi, có thể lẫn cả máu và mủ...; khám thấy cổ tử cung hé mở, tử cung co lại chậm, ấn tử cung gây đau; cần xét nghiệm lấy sản dịch cấy tìm vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ. Một hình thái nặng hơn của viêm niêm mạc tử cung là viêm tử cung toàn bộ, quá trình viêm nhiễm có thể lan tới lớp cơ tử cung với những ổ áp xe nhỏ; các triệu chứng lâm sàng có dấu hiệu nặng hơn viêm niêm mạc tử cung và dễ gây nên viêm phúc mạc hoặc nhiễm trùng máu. Biện pháp xử trí điều trị là dùng loại kháng sinh toàn thân như: ampicillin, gentamycin; thuốc làm tăng co bóp tử cung như: oxytocin, ergometrine; nếu nguyên nhân do sót nhau thì phải đợi đến khi nhiệt độ cơ thể giảm hoặc hết sốt mới được nong nạo buồng tử cung, nếu nguyên nhân gây viêm tử cung toàn bộ phải cắt bỏ tử cung toàn phần và xét nghiệm cấy máu để phát hiện sớm tình trạng nhiễm trùng huyết.

Viêm tử cung và viêm quanh tử cung

Bệnh lý viêm tử cung và viêm quanh tử cung làm cho sản phụ bị sốt sau khi sinh khoảng 8 - 10 ngày; lúc khám sờ nắn tiểu khung thấy một khối mềm, đau, bờ không rõ, hiện tượng di động hạn chế; sản dịch ra nhiều, có mùi hôi, cổ tử cung chậm đóng lại, tử cung co lại chậm. Tiến triển bệnh lý tùy theo từng trường hợp, bệnh có thể khỏi nếu được điều trị tích cực có đáp ứng hoặc trở thành viêm phúc mạc tiểu khung. Biện pháp xử trí điều trị là cho sản phụ nằm nghỉ ngơi, chườm đá lạnh và sử dụng loại kháng sinh thích hợp; trường hợp viêm nhiễm đã tạo thành túi mủ thì phải chọc túi mủ và dẫn lưu qua túi cùng âm đạo, nếu không đáp ứng phải cắt bỏ tử cung và sử dụng kháng sinh phù hợp với liều cao truyền bằng đường tĩnh mạch.

Viêm phúc mạc tiểu khung

Quá trình viêm phúc mạc tiểu khung không khu trú ở niêm mạc tử cung mà chúng phát triển vào tiểu khung để hình thành những giả mạc ở các tạng trong tiểu khung và gây dính với nhau. Phản ứng của phúc mạc sẽ sinh ra các túi dịch lẫn máu và mủ. Triệu chứng bệnh lý xảy ra trung bình khoảng từ 7 - 15 ngày sau khi sinh và có biểu hiện rầm rộ hơn viêm niêm mạc tử cung; nhiệt độ cơ thể tăng dần 38 - 400C, rét run, mệt mỏi, lưỡi bẩn; khám thấy có phản ứng thành bụng ở tiểu khung, bụng chướng nhẹ, ở phần trên của tiểu khung bụng mềm; khám âm đạo thấy cổ tử cung bé, tử cung to, di động và đau; các túi cùng âm đạo phù nề và đau; nếu khám âm đạo kết hợp với sờ nắn bụng thấy vùng tiểu khung có khối rắn, không di động, đau; xét nghiệm máu ghi nhận bạch cầu tăng, cần cấy sản dịch để tìm vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ. Khi điều trị tích cực và đáp ứng, bệnh tiến triển tốt và có thể khỏi những cũng có trường hợp phát triển thành viêm múc mạc toàn bộ. Biện pháp xử trí điều trị bằng cách cho sản phụ nghỉ ngơi, chườm đá lạnh, dùng kháng sinh phù hợp với liều cao; nếu có ápxe ở túi cùng Douglas phải chọc dò và dẫn lưu qua túi cùng âm đạo; trường hợp điều trị không đáp ứng phải cắt bỏ tử cung và sử dụng kháng sinh thích hợp với liều cao truyền qua đường tĩnh mạch.

Viêm phúc mạc toàn bộ

Viêm phúc mạc toàn bộ xảy ra thường do nguyên nhân sau mổ lấy thai không vô khuẩn, sau viêm niêm mạc tử cung và viêm tử cung toàn bộ không được điều trị tốt, sau khi thực hiện các thủ tục sản khoa bóc nhau và kiểm soát tử cung; đồng thời cũng có thể do vi khuẩn lan tràn từ bệnh lý ứ mủ ở vòi trứng gây viêm phúc mạc. Triệu chứng viêm phúc mạc toàn bộ biểu hiện sau khi sản phụ sinh khoảng từ 7 - 10 ngày hoặc sau khi mổ đẻ khoảng 3 - 4 ngày với dấu hiệu môi khô, lưỡi bẩn, mắt trũng; có hội chứng nhiễm độc, nhiễm trùng; đại tiện có khi phân lỏng và mùi rất hôi, có phản ứng thành bụng hoặc cảm ứng phúc mạc nhưng nhiều khi không rõ; chụp phim X-quang bụng không chuẩn bị thấy bụng có quai ruột giãn, có mức nước và mức hơi; xét nghiệm điện giải đồ ghi nhận các thành phần Ca++. Cl- giảm. Lưu ý cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lý viêm phúc mạc tiểu khung, liệt ruột cơ năng. Xử trí điều trị bằng cách sử dụng kháng sinh toàn thân phù hợp, bồi phụ nước và các chất điện giải, thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tử cung bán phần, tiến hành rửa và dẫn lưu ổ bụng.

Nhiễm trùng huyết

Nhiễm trùng huyết là hình thái bệnh lý nặng nhất trong nhiễm trùng hậu sản. Sản phụ sau khi sinh bị sốt cao liên tục, nhiệt độ dao động, kèm theo triệu chứng sốt cao là rét run, toàn thân mệt mỏi; có dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc như: môi khô, lưỡi bẩn, khó thở, da vàng, nước tiểu sẫm màu; nghe phổi có tiếng ran; có thể thấy các biểu hiện của các ổ nhiễm khuẩn thứ phát như ápxe cơ, ápxe gan, ápxe não; khám sản khoa thấy cổ tử cung hé mở, tử cung to và co hồi lại chậm, ấn tử cung đau, sản dịch có mùi hôi và bẩn lẫn máu mủ; cấy máu và cấy sản dịch nếu có kết quả dương tính là xác định chẩn đoán chắc chắn nhiễm trùng huyết, nếu kết quả âm tính cũng không thể loại trừ và chủ yếu vẫn căn cứ vào triệu chứng lâm sàng; thực hiện các xét nghiệm khác thấy hồng cầu giảm, bạch cầu tăng chủ yếu là tăng bạch cầu đa nhân trung tính, hematocrit giảm. Nhiễm trùng huyết có thể gây nên các biến chứng như suy thận cơ năng, viêm thận kẽ, ápxe phổi, viêm nội tâm mạc, ápxe não, viêm màng não... Tiên lượng bệnh tùy thuộc vào ổ nhiễm khuẩn thứ phát, việc điều trị có đáp ứng hiệu quả và kịp thời hay không. Điều trị nhiễm trùng huyết bằng cách sử dụng kháng sinh theo kết quả của kháng sinh đồ, khi chưa có kháng sinh đồ nên dùng loại kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng như nhóm cephalosporin, metronidazol, quinolon... kết hợp với biện pháp truyền máu, dùng thuốc trợ tim...; khi nhiệt độ cơ thể trở lại bình thường hoặc giảm xuống phải thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tử cung bán phần để loại trừ ổ nhiễm khuẩn tiên phát.

Viêm tắc tĩnh mạch

Nguyên nhân gây viêm tắc tình mạch thường hay gặp ở những sản phụ mang thai con rạ có chuyển dạ kéo dài, lưu thông mạch máu ở hệ tĩnh mạch bị cản trở, có hiện tượng tăng sinh sợi huyết. Triệu chứng xuất hiện muộn khoảng 12 - 15 ngày sau khi sinh với biểu hiện sốt nhẹ, rét run, mạch nhanh; nếu viêm tắc tĩnh mạch chi dưới thì chân phù, màu trắng, ấn đau, gót chân không nhấc được khỏi giường. Nếu điều trị không kịp thời và đáp ứng có thể gây viêm tắc động mạch phổi, thận với nguy cơ dẫn đến tử vong. Trong quá trình điều trị, cần làm xét nghiệm thời gian máu chảy, máu đông; tiểu cầu, thời gian Quick và tỉ lệ prothrombin để theo dõi tiến triển của bệnh và sự đáp ứng điều trị; nên bất động chi bị viêm tắc tĩnh mạch ít nhất 3 tuần sau khi sản phụ hết sốt; sử dụng kháng sinh toàn thân kết hợp với corticoides sau vài ngày dùng kháng sinh; điều trị thuốc chống đông máu như heparin 25.000UI/kg cân nặng trong 24 giờ bằng đường tiêm tĩnh mạch hay nhỏ giọt tĩnh mạch hoặc dicoumarol 2 - 10 mg trong 24 giờ để kháng vitamin K có tác dụng chậm; theo dõi kết quả điều trị bằng xét nghiệm thời gian Howell, Quick.

Lời khuyên của thầy thuốcĐể đề phòng các bệnh lý nhiễm trùng hậu sản đối với sản phụ sau khi sinh đã được nêu ở trên, cần điều trị tích cực những ổ viêm nhiễm trong khi có thai như: viêm đường tiết niệu, viêm đường sinh dục...; lưu ý đề phòng nhiễm khuẩn ối và chuyển dạ kéo dài; trong khi sinh không để sót nhau, tuân thủ đúng các chỉ định kiểm soát tử cung, chế độ vô khuẩn và vệ sinh; sau khi sinh phải tránh tình trạng bế sản dịch, bảo đảm vệ sinh sạch sẽ, chăm sóc tầng sinh môn đúng quy định.

BS. NGUYỄN TR M ANH

Cách ăn uống sau sinh để mẹ đẹp, con khỏe

Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cả mẹ và con, bữa ăn của người mẹ phải đa dạng, số lượng thức ăn đầy đủ, cân đối và có giá trị dinh dưỡng (ưu tiên thức ăn có nhiều protein và canxi).

Chế độ chăm sóc và chế độ dinh dưỡng của bà mẹ để đảm bảo đủ sữa cho con bú và phục hồi nhanh sức khỏe sau sinh cần chú ý như sau:

Nghỉ ngơi tại giường

Sau khi sinh, người mẹ cần nghỉ ngơi tại giường trong 1 ngày đầu, những ngày sau có thể dậy và đi lại nhẹ nhàng và sau 1 tuần có thể làm việc nhẹ nhàng. Cho trẻ bú sớm trong vòng 30 phút sau khi sinh, bú sớm giúp sữa mau về, giúp co hồi tử cung, mẹ đỡ chảy máu. Giữ vệ sinh cá nhân sau sinh cũng rất quan trọng: vệ sinh vùng kín bằng nước sôi để nguội (ấm), lau người thay quần áo mỗi ngày, sau 1 tuần tắm bằng nước ấm cho sạch sẽ, thoải mái. Ăn đủ chất dinh dưỡng, không ăn kiêng khem, uống nhiều nước hoa quả để chống táo bón.

Về dinh dưỡng

Theo bảng nhu cầu khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Quốc gia về năng lượng hàng ngày cho phụ nữ sau sinh cho con bú, năng lượng khẩu phần cần đạt là 2.550Kcal/ngày, vì bữa ăn đạt đủ năng lượng sẽ đảm bảo lượng sữa được tiết đủ cho con. Theo dân gian có một số thức ăn lợi sữa, đó là những thức ăn giàu dinh dưỡng, phù hợp cho phụ nữ sau sinh phục hồi sức khỏe và cung cấp chất dinh dưỡng để tạo sữa cho con bú như: cháo móng giò (móng giò hầm với gạo nếp đậu đen hay đậu xanh), ăn cơm nếp với thịt gà, canh đu đủ xanh nấu với thịt gà,... thực chất những món ăn này là cung cấp thêm năng lượng từ gạo và thêm đạm động vật đảm bảo bổ sung dinh dưỡng đủ cho bà mẹ tiết sữa.

Sau khi sinh, bà mẹ cần được nghỉ ngơi và chăm sóc đặc biệt để phục hồi sức khỏe và nuôi con bú.

Sau khi sinh, bà mẹ cần được nghỉ ngơi và chăm sóc đặc biệt để phục hồi sức khỏe và nuôi con bú.

Ngoài cơm (và các lương thực khác) ăn đủ no, bữa ăn cho bà mẹ cho con bú cần có thức ăn để bổ sung chất đạm và chất béo giúp cho việc tạo sữa và duy trì sức khỏe. Trước hết cần chú ý đến các nguồn chất đạm từ các thức ăn thực vật như đậu tương, đậu xanh, các loại đậu khác và vừng, lạc. Đây là những thức ăn có giá rẻ hơn thịt nhưng có lượng đạm cao, lại có lượng chất béo nhiều giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các nguồn vitamin tan trong dầu. Chất đạm động vật như: thịt các loại, trứng, sữa, cá, tôm, cua,... Theo nhu cầu lượng protein là 70-80g/ngày, protein động vật/protein tổng số ≥ 35%. Số lượng protein có thể ước tính là 100g thịt/cá cung cấp khoảng 20g protein, 100g đậu phụ cung cấp 10g protein. Chất béo cần cung cấp 25-30% năng lượng khẩu phần, nên dùng các chất béo không no có nhiều nối đôi có nhiều trong rau xanh, một số dầu thực (dầu cá, ô lưu,..), một số loại cá béo. Chất béo rất quan trọng cho sự phát triển trí não và thị lực của trẻ. Hàng ngày nhu cầu lipid của bà mẹ cho con bú là từ 55-65g/ngày, tỷ lệ lipid động vật/lipid tổng số là 60%.

dinh dưỡng sau sinh

Vitamin và chất khoáng

Vitamin và chất khoáng rất cần thiết với bà mẹ cho con bú. Ngoài việc bổ sung thông qua bữa ăn hàng ngày bằng các thực phẩm giàu vi chất như: canxi, vitamin D, sắt, kẽm... Canxi có nhiều trong tôm, cua, cá và sữa. Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng, các loại nhuyễn thể, trong ngũ cốc, đậu đỗ các loại và vừng lạc. Nguồn cung cấp kẽm tốt nhất là thịt, cá, hải sản. Các thức ăn thực vật cũng có kẽm nhưng hàm lượng thấp và hấp thu kém. Sữa, gan, trứng... là nguồn vitamin A động vật, dễ dàng được hấp thu và dự trữ trong cơ thể. Các loại rau xanh, nhất là rau ngót, rau dền, rau muống và các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, đu đủ, xoài, bí đỏ, là những thức ăn có nhiều caroten còn gọi là tiền vitamin A, vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A. Ăn đa dạng các loại thực phẩm, thay đổi món ăn thường xuyên, nhiều loại thức ăn, bữa ăn sẽ có đủ các vitamin và chất khoáng. Bà mẹ cho con bú cần uống 1 liều vitamin A 200.000UI trong vòng một tháng sau sinh để đảm bảo cung cấp vitamin A qua sữa.

Tóm lại, hàng ngày bà mẹ cho con bú cần lượng thực phẩm bao gồm: ngũ cốc 450-500g, trứng 40-50g, đậu và chế phẩm từ đậu 50-100g, cá và thịt từ 80-100g, rau từ 300-400g, hoa quả từ 100-200g, dầu mỡ 20g. Một ngày, nên ăn 3 bữa chính và 2 bữa phụ, hạn chế ăn đồ nướng và rán. Người mẹ cần uống nhiều nước từ 2,0-2,5 lít/ngày (8-10 cốc) để lượng sữa tiết ra nhiều hơn (trên 85g nước trong 100ml sữa mẹ) nên dùng sữa, nước trái cây, nước rau luộc, nước đun sôi để nguội. Trong thời gian nuôi con bú, hạn chế uống nước trà, nước ngọt có ga, rượu, cà phê, các loại gia vị (hành, tiêu, ớt, tỏi,...). Cần có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tránh lo lắng, buồn phiền, giận dữ, mất ngủ. Khi cho con bú, nếu phải dùng thuốc phải hỏi ý kiến của thầy thuốc, không được tự động dùng thuốc vì có thể nguy hại cho con và có thể làm cạn nguồn sữa.

ThS. BS. Nguyễn Văn Tiến (Trung tâm Giáo dục Truyền thông dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

Xử trí tắc mạch ối

Đây là một biến chứng ít gặp nhưng có tỉ lệ tử vong cao cho cả người mẹ lẫn thai nhi.

Tắc mạch ối là trường hợp có thể gặp khi sản phụ chuyển dạ, trong lúc sinh đẻ hoặc ngay cả sau khi sinh. Tình trạng này xảy ra một cách đột ngột sau khi vỡ ối, lúc rạch cơ tử cung trong mổ lấy thai. Biểu hiện lâm sàng được ghi nhận là sản phụ bỗng nhiên khó thở, da xanh tái, tím môi và các đầu chi; tinh thần hốt hoảng hoặc hôn mê, toàn trạng có dấu hiệu nặng; mạch nhanh, huyết áp tụt, thở nhanh hoặc khó thở; có thể bị co giật, kích động; thai bị suy. Nếu sản phụ đã sinh con, có hiện tượng tử cung co hồi kém, chảy máu loãng, máu không đông, biểu hiện tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch máu. Việc chẩn đoán xác định chủ yếu căn cứ vào hồi cứu trên giải phẫu khi tìm thấy các tế bào của nước ối ở trong máu của người mẹ như tế bào biểu mô, lông tơ. Lưu ý cần chẩn đoán phân biệt với các trường hợp tắc mạch máu phổi, nhồi máu cơ tim, sốc phản vệ và sốc do nhiễm khuẩn để tránh nhầm lẫn.

Xử trí tắc mạch ối

Xử trí tắc mạch ối phải được thực hiện khẩn cấp ngay với các biện pháp xử trí ban đầu, sau đó tiếp tục xử trí can thiệp tùy theo nguyên nhân gây bệnh.

Xử trí tắc mạch ốiTắc mạch ối cần được phát hiện và xử trí cấp cứu vì có tỉ lệ tử vong cao cho cả mẹ lẫn con

Xử trí ban đầu: đứng trước một trường hợp sản phụ bị tắc mạch ối đã được chẩn đoán xác định, việc xử trí tích cực ngay từ đầu rất quan trọng để cứu sản phụ và thai nhi thoát khỏi được tình trạng nguy kịch. Đầu tiên cần kêu gọi mọi người đến giúp đỡ, hỗ trợ để cùng cấp cứu sản phụ. Sau đó phải kiểm tra và theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu sinh tồn như mạch, huyết áp, nhịp thở, nghe để phát hiện các dấu hiệu ở tim và phổi. Lưu ý phải bảo đảm sự thông thoáng đường thở bằng cách cho sản phụ nằm ở vị trí đầu cao, hút đờm dãi để làm thông thoáng đường hô hấp, cho thở oxy và duy trì thể tích tuần hoàn; thiết lập đường truyền tĩnh mạch. Cần tư vấn, giải thích cho người thân của gia đình biết tình trạng nguy kịch của sản phụ và những nguy cơ có thể xảy ra cho cả mẹ cũng như con. Nếu sản phụ đang ở tuyến xã, phường, thị trấn thì phải tìm cách chuyển lên tuyến quận, huyện, thị xã, thành phố ngay; bố trí có nhân viên y tế đi kèm, cho sản phụ thở oxy nếu có, đặt sản phụ ở tư thế đầu cao trong khi vận chuyển cấp cứu.

Xử trí theo nguyên nhân: việc xử trí này được thực hiện tùy theo điều kiện ở tuyến xã, phường, thị trấn và tuyến quận, huyện, thị xã, thành phố trở lên.

Ở tuyến xã, phường, thị trấn, cần gọi điện báo cáo lên tuyến trên trường hợp sản phụ bị tắc mạch ối để được sự giúp đỡ, hỗ trợ; đồng thời huy động tất cả nhân viên y tế sẵn có để tập trung cấp cứu sản phụ. Việc xử trí phải được tiến hành bằng các biện pháp như xử trí ban đầu. Lưu ý cần giải thích, tư vấn cho người thân gia đình sản phụ biết rõ tình trạng bệnh lý nặng và tìm mọi cách chuyển ngay sản phụ lên tuyến trên, phải bố trí nhân viên y tế đi kèm trong quá trình vận chuyển sản phụ.

Ở tuyến quận, huyện, thị xã, thành phố trở lên; phải đặt ngay nội khí quản để thực hiện biện pháp hô hấp hỗ trợ; đồng thời truyền máu và các sản phẩm của máu. Thực tế có khoảng 65% các trường hợp sản phụ bị tắc mạch ối thường xảy ra trước khi sinh đẻ, vì vậy cần nhanh chóng lấy thai ra càng nhanh càng tốt. Có thể đặt forceps nếu đủ điều kiện hoặc mổ lấy thai. Mặc dù sản phụ được can thiệp xử trí tích cực nhưng tỉ lệ tử vong của người mẹ cũng khá cao. Lưu ý việc tư vấn, giải thích cho người nhà sản phụ một cách cụ thể trước khi thực hiện phẫu thuật cắt tử cung cầm máu nếu sản phụ đã sinh con và chảy máu sau khi sinh đẻ với trình trạng của sản phụ cho phép phẫu thuật. Cũng phải giải thích, tư vấn cho người thân của gia đình biết rõ tình trạng nguy kịch của sản phụ trước khi làm các thủ tục chuyển lên bệnh viện ở tuyến cao hơn.

Đánh giá tình trạng sau xử trí

Sau khi đã xử trí can thiệp điều trị tích cực trong thời gian khoảng 30 phút, cần đánh giá xem xét sản phụ có đáp ứng với các biện pháp thực hiện hay không. Nếu tình trạng sản phụ được cải thiện thì tiếp tục điều trị duy trì, đồng thời điều trị nguyên nhân tùy theo từng trường hợp. Nếu tình trạng sản phụ không được cải thiện thì phải tiếp tục điều trị tích cực, đồng thời cần tổ chức hội chẩn liên chuyên khoa và điện thoại báo cáo mời tuyến trên đến giúp đỡ, hỗ trợ hoặc chuyển sản phụ lên tuyến bệnh viện cao hơn.

BS. NGUYỄN TR M ANH

Xử trí các trường hợp trẻ bị đẻ rơi

Cách tính ngày sinh dự đoán

Thông thường ngày sinh dự đoán của người phụ nữ mang thai được tính theo ngày đầu của kỳ kinh nguyệt cuối cùng và tính đúng 40 tuần kể từ ngày đầu của kỳ kinh nguyệt. Nếu tính theo dương lịch, lấy ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng cộng (+) thêm 7 để có ngày sinh dự đoán, lấy tháng của kỳ kinh cuối cùng cộng (+) thêm 9 hoặc trừ (-) đi 3 nếu tổng số lớn hơn 12 để có tháng sinh dự đoán. Ví dụ ngày đầu của kỳ kinh cuối là 15/9/2017 thì ngày sinh dự đoán của sản phụ sẽ là ngày 22 /6/2018. Cũng có thể sử dụng bảng quay có sẵn tại cơ sở y tế để tính ngày sinh dự đoán. Khi người phụ nữ mang thai không nhớ ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng thì có thể dựa trên kết quả siêu âm để xác định tuổi của thai nhi, trường hợp này thường chính xác nhất là trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Trường hợp người phụ nữ mang thai không nhớ ngày dương lịch, chỉ nhớ ngày âm lịch thì nhân viên y tế phải dựa vào lịch âm dương mà chuyển ngày âm sang ngày dương, tháng âm sang tháng dương. Ngoài ra, trong các trường hợp thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào tử cung, chuyển phôi thụ tinh trong ống nghiệm thì ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng được tính trước ngày bơm tinh trùng hay chuyển phôi 14 ngày; ngày sinh dự đoán cũng được tính như cách đã nêu ở trên.

Mặc dù người phụ nữ khi đi khám thai được xác định ngày sinh dự đoán để chuẩn bị cho việc sinh để nhưng trên thực tế gần đến ngày sinh có những tình huống bất ngờ xảy ra làm cho người phụ nữ mang thai có thể bị đẻ rơi ở những vị trí khác nhau trước ngày sinh dự đoán mà không lường trước được.

Xử trí các trường hợp trẻ bị đẻ rơiMột sản phụ đẻ rơi trẻ sơ sinh trên đường đi đến cơ sở y tế

Xử trí trường hợp trẻ bị đẻ rơi

Trường hợp trẻ bị đẻ rơi được xác định khi tình trạng sinh đẻ của người phụ nữ mang thai không được dự kiến và thường xảy ra ngoài ý muốn của mọi người ở những nơi không phù hợp với việc sinh đẻ như: tại nơi đang làm việc gồm công sở, nhà máy, công ty, xí nghiệp, cánh đồng, chợ búa, thậm chí ngay ở cả nhà vệ sinh...; trên các phương tiện giao thông gồm xe ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay...; trên đường đi làm việc hoặc đi đến cơ sở y tế... Việc xử trí trẻ bị đẻ rơi phải được thực hiện một cách khẩn cấp ngay tại chỗ xảy ra đẻ rơi và tùy theo tình huống cụ thể của sản phụ khi đó để can thiệp. Trước hết phải nhanh chóng giải phóng thai nhi ra khỏi quần hoặc váy áo của sản phụ, sau đó nếu có sẵn túi đỡ đẻ sạch vô trùng thì xé ngay bao gói để sử dụng các vật liệu, dụng cụ đã có sẵn ở trong đó. Cần trải tấm ni-lông ngay tại nơi bà mẹ đẻ rơi và đặt đứa trẻ sơ sinh nằm vào đó, ủ ấm trẻ bằng bất cứ thứ gì có thể có được ở người mẹ và người xử trí can thiệp như khăn, áo, giấy báo... Tiếp theo lấy các sợi chỉ buộc dây rốn ở trong gói dụng cụ để buộc chặt dây rốn ở vị trí càng xa da bụng của trẻ càng tốt, lưu ý không được cắt dây rốn. Sau đó chuyển đứa trẻ sơ sinh cho người mẹ ôm sát vào người để hạn chế tình trạng trẻ bị nhiễm lạnh và tìm mọi cách chuyển hai mẹ con đến cơ sở y tế nơi gần nhất để được chăm sóc tiếp tục. Tại cơ sở y tế, người mẹ sẽ được lấy bánh nhau ra, theo dõi và xử trí tình trạng chảy máu, nhiễm khuẩn; đứa trẻ sơ sinh sẽ được thực hiện việc buộc lại dây rốn đúng kỹ thuật và cả mẹ lẫn con sẽ được tiêm huyết thanh chống uốn ván.

Nếu trường hợp không có sẵn túi đỡ đẻ sạch vô trùng thì ngay lập tức phải ủ ấm trẻ sơ sinh bị đẻ rơi bằng mọi vật dụng đồ vải có sẵn tại chỗ. Tiếp theo tìm một sợi dây nhỏ, mềm, bất cứ là loại dây gì như dây rút, dây xé từ vạt áo hay khăn tay, dây buộc đồ đạc... để buộc chặt dây rốn càng xa nơi của phần dây rốn ở bụng trẻ sơ sinh càng tốt. Lưu ý không được cắt dây rốn, sau đó chuyển đứa trẻ sơ sinh cho người mẹ ôm ấp để ủ ấm và tìm mọi cách chuyển ngay hai mẹ con đến cơ sở y tế nơi gần nhất để tiếp tục xử trí can thiệp cho cả mẹ lẫn con như nội dung đã nêu ở trên.

BS. NGUYỄN TR M ANH

Món ăn cho sản phụ thiếu sữa

Sau đây là một số món ăn bổ dưỡng và dễ tiêu hóa giúp sản phụ có nguồn sữa dồi dào.

Cháo kê: kê 250g, thịt gà nạc 100g, đường trắng 30g. Thịt gà bỏ da xé nhỏ. Kê bỏ vỏ giã dập cho vào nồi thêm nước đun chín nhừ, cho thịt gà và đường vào quấy đều, cháo sôi lại một lúc là được. Ăn ngày 1 lần, ăn liền 5 - 7 ngày.

Móng giò lợn hầm lạc nhân, đu đủ xanh rất tốt cho chị em sau đẻ bị thiếu sữa.

Móng giò lợn hầm lạc nhân, đu đủ xanh rất tốt cho chị em sau đẻ bị thiếu sữa.

Móng giò lợn hầm lạc nhân, đu đủ: Móng giò lợn 250 - 300g, lạc nhân 50g, đu đủ non 30g, mắm muối vừa đủ. Móng giò lợn nướng vàng, cạo sạch, chặt vừa miếng, ướp mắm muối đem xào chín. Cho tất cả nguyên liệu vào nồi thêm nước ninh nhừ, chia 2 lần ăn trong ngày, ăn liền 3 - 5 ngày (sau đẻ từ 3 - 5 ngày mới nên ăn).

Cá chép hầm quả sung: cá chép 1 con (250 - 300g), quả sung non 50g, quả mít non 50g, rượu trắng 1 thìa canh, mắm muối vừa đủ. Cá chép làm sạch, đem ướp mắm muối và rượu. Quả sung, quả mít non rửa sạch giã nhỏ chia đôi, một nửa rải ở đáy bát to, đặt cá lên và rải tiếp nửa còn lại lên cá, hấp cách thủy. Ăn ngày 1 lần, cần ăn 2 - 3 ngày.

Thịt lợn nạc hầm hạt mít: thịt lợn nạc 300g, hạt mít 300g, mắm muối vừa đủ. Thịt lợn nạc rửa sạch thái miếng ướp mắm muối xào chín tới. Hạt mít bỏ vỏ giã dập cùng thịt lợn nạc cho vào nồi thêm nước vừa đủ, hầm nhừ. Ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 3 - 5 ngày.

Rau cải cúc thịt lợn nạc hấp cách thủy: rau cải cúc 300g, thịt lợn nạc 150g, lạc nhân 50g, mắm muối vừa đủ. Rau cải cúc nhặt rửa sạch. Lạc nhân giã nhỏ. Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ trộn với lạc, mắm muối, viên thành viên bằng quả táo. Dùng bát to, đặt lớp cải cúc ở đáy bát, sau đó cho thịt vào, trên cùng lại rải lớp cải cúc, hấp cách thủy, chia 2 lần ăn với cơm. Ăn liền 3 - 5 ngày.

Người mẹ cần được nghỉ ngơi nhiều, cần sự động viên, quan tâm chăm sóc của người thân trong gia đình, tránh mọi căng thẳng. Sản phụ nên ăn đa dạng thực phẩm bổ dưỡng, kiêng các đồ sống lạnh như hải sản; chất tanh như cua, sò, ốc, hến, trai, cá mè; hạn chế các gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu… và các chất kích thích như chè, cà phê...

Lương y Đình Thuấn